Trung tâm văn hóa Trần Văn Thời

http://dulichtranvanthoicamau.vn


Làng rừng vồ dơi: Khu du lịch sinh thái vùng ngọt hóa

Những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại vùng bán đảo Cà Mau xuất hiện mô hình chiến tranh nhân dân hết sức độc đáo, đó là những “Làng rừng” được hình thành ở rất nhiều địa phương.
img 1542015241557 o 1cs3kajai1j881nglc5auo614gsd[1]
Làng rừng vồ dơi: Khu du lịch sinh thái vùng ngọt hóa

Những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại vùng bán đảo Cà Mau xuất hiện mô hình chiến tranh nhân dân hết sức độc đáo, đó là những “Làng rừng” được hình thành ở rất nhiều địa phương.

Giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1960 trên địa bàn tỉnh Cà Mau xuất hiện hàng chục “làng rừng” ở các khu vực rừng tràm, rừng đước và rừng chồi. Một số làng rừng tiêu biểu ở các khu vực: Vồ Dơi, Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây, Phong Lạc, Biển Bạch, Tân Tiến, Tân Thuận, Tân Hưng Tây, Phú Mỹ, Năm Căn, Viên An… và nhiều nơi khác. Trong đó tiêu biểu nhất là Làng rừng Vồ Dơi, thuộc khu vực Vườn Quốc gia U Minh hạ ngày nay.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đế quốc Mỹ tăng cường xây dựng bộ máy cai trị tay sai nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Dưới sự bảo trợ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ thẳng tay ra sức đàn áp nhân dân, đặc biệt là những người kháng chiến và những người thân của họ. Chúng mở nhiều chiến dịch “Tố cộng”, “Diệt cộng”, đồng thời đưa ra nhiều luật lệ hà khắc, trong đó có luật 10/59 để công khai chặt đầu, mổ bụng, moi gan những người yêu nước, tàn sát nhân dân ta bằng nhiều hình thức dã man.

Tại Cà Mau, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng bắt đầu đưa quân đóng lại các đồn bót ở khắp nơi trong tỉnh và dựng lên bộ máy cao trị từ tỉnh đến xã, ấp vốn là vùng giải phóng trước đây để kềm kẹp và đàn áp nhân dân, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Chúng lập ra các tổ chức phản động như: “lực lượng bảo vệ hương thôn”, “thanh niên cộng hòa”, “phong trào cách mạng quốc gia”… và tiến hành bắt bớ, khủng bố những người tham gia kháng chiến và những gia đình chúng tình nghi có quan hệ với cách mạng, mà chúng gọi là “Việt cộng”. Chúng dùng nhiều thủ đoạn dụ dỗ, lừa mị, mua chuộc, trấn áp, dùng cực hình tra tấn dã man để “đập tan đầu óc Cộng sản”. Đồng thời, chúng còn tăng cường lực lượng cảnh sát, công an, mật vụ và lập ra các “ngũ gia liên bảo” để theo dõi, giám sát, kềm kẹp nhân dân.

Bên cạnh đó, Mỹ - Diệm tăng cường dồn dân vào các “khu dinh điền”, “khu trù mật”, tổ chức kiểm soát dân bằng nhiều hình thức rất gắt gao với mục đích chia tách cán bộ cách mạng và nhân dân theo kiểu “tách cá ra khỏi nước”, làm cho quần chúng xa rời cách mạng, chặn nguồn tiếp tế và cô lập, thủ tiêu lực lượng cán bộ, chiến sĩ của ta. Song song với việc xây dựng đồn bót, tổ chức bộ máy cai trị độc tài, đế quốc Mỹ và tay sai còn xây dựng đặc khu Hải Yến – Bình Hưng do tên Nguyễn Lạc Hóa cầm đầu với một tiểu đoàn quân Tàu Tưởng ác ôn chiếm đóng cùng với những tên lính ngụy có nhiều nợ máu với nhân dân.

Từ năm 1958, các Làng rừng lần lượt hình thành ở khu rừng U Minh Hạ. Theo đề nghị của Tỉnh uỷ Cà Mau, Xứ uỷ Nam Bộ do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư đồng ý cho vùng Nam U Minh đến rừng đước Ngọc Hiển xây dựng căn cứ trong các khu rừng để bảo tồn lực lượng, chờ thời cơ nổi dậy chống giặc. Và chính Làng rừng là nơi xuất hiện những cơ sở sản xuất vũ khí đầu tiên của tỉnh sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Năm 1959, theo chỉ đạo của Liên tỉnh uỷ miền Tây, Tỉnh uỷ Cà Mau thành lập Công trường Quân giới tỉnh lấy tên Công trường 200 - tiền thân của Xưởng Quân giới Khu, do đồng chí Nguyễn Trung Thành (Còn gọi là Ba Lò Rèn) phụ trách. Sau khi thành lập, đơn vị vừa chiến đấu, vừa sản xuất, chế tạo hàng ngàn tấn vũ khí phục vụ cho chiến trường, góp phần quan trọng trong các chiến thắng lớn của quân nhân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Các làng rừng xuất hiện từ một vài làng phát triển lên đến con số chục làng rừng lớn nhỏ trong tỉnh ở các khu vực rừng tràm, rừng đước và rừng chồi. Do đặc thù địa hình của tỉnh Cà Mau được rừng bao bọc ven biển từ phía Đông sang phía Tây, các làng rừng cũng được hình thành từ những cánh rừng tràm ngập ngọt U Minh hạ trải dài đến vùng rừng đước ngập mặn ven bờ biển Đông. Khi khu vực rừng tràm hình thành một vài làng rừng, thì ở vùng rừng đước cư dân đã có những xóm nhà ở ven các vàm sông, nhưng còn thưa thớt. Khi tỉnh có chủ trương xây dựng làng rừng thì dân số trong những làng rừng tăng gấp bội, các cánh rừng trong tỉnh tiếp tục xuất hiện hàng chục làng rừng thuộc các địa phương: Vồ Dơi, Nguyễn Phích, Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây, Phong Lạc, Biển Bạch, Tân Tiến, Tân Thuận, Tân Hưng Tây, Phú Mỹ, Năm Căn, Viên An… và nhiều nơi khác. Các làng rừng tiêu biểu như: Làng rừng Dồ Dơi, Làng rừng Khánh Bình Tây (rừng tràm); Làng rừng Đồng Ông Nghệ, Làng rừng Huỳnh Ngọc Điệp (rừng đước).

Trong khi bên ngoài Làng rừng, với luật 10/59, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp những người kháng chiến, thì trong làng rừng nhân dân được yên ổn sinh sống, các sinh hoạt diễn ra nhộn nhịp, phấn khởi – đây không chỉ là nơi xây dựng lực lượng mà còn là môi trường rèn luyện ý chí, bản lĩnh cho cán bộ đảng viên. Nhân dân sống đùm bọc, tương trợ lẫn nhau với mối quan hệ đồng chí, đồng bào cùng “chung lưng đấu cật”, hết lòng phục vụ kháng chiến. Những nhà sàn được bố trí theo từng cụm tạo thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Người dân dựa vào rừng đánh bắt cá, tôm, chăn nuôi nhỏ và trồng cây lương thực nhằm bảo đảm đời sống đồng thời giữ mối quan hệ với làng xóm cũ để mua sắm những nhu yếu phẩm cần thiết, thỉnh thoảng lại trở về coi sóc nhà, vườn nơi quê cũ, thu hoạch cây trái, thăm viếng người thân.

Làng rừng là một hình thái xã hội đặc biệt, những yếu tố về “làng” ở đây đều được thể hiện, kể cả các mặt nhân sinh, văn hóa, xã hội, giao lưu… Về tổ chức của làng rừng, ngoài các yếu tố của làng còn hình thành ban quản lý có người chỉ huy, tổ chức lãnh đạo, tổ chức sinh hoạt, đời sống, bảo vệ, xây dựng thực lực… như chi bộ, các đoàn thể quần chúng, các tổ sản xuất, tổ canh gác, tổ công trường làm vũ khí, tổ y tế, tổ giáo dục, văn nghệ… Tại làng rừng, tình quân dân là một khối đoàn kết thống nhất, mọi người chỉ nghĩ đến cái chung, vì cái chung, đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết.

Bên cạnh đó, các làng rừng còn có đội tuyên truyền võ trang ban đêm đi ra ngoài phát loa tuyên truyền phá kềm, diệt ác. Các đội bảo vệ cũng được phân công bố phòng cẩn mật; làng rừng ở vùng rừng đước còn được dựng hàng rào chắn bảo vệ; ở làng rừng tràm, nhân dân đào kênh mương ngăn lửa tạo nguồn nước để phòng chống cháy rừng; các làng rừng như những vùng giải phóng trong vùng địch kiểm soát. Ngoài ra, trong các làng rừng còn xây dựng trường học, bệnh xá, trường bồi dưỡng chính trị, tổ chức nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, nghe nói chuyện thời sự. Nhiều trẻ em đã ra đời và trưởng thành từ làng rừng, trở thành những chiến sĩ cách mạng ưu tú. Nhiều cán bộ lãnh đạo của tỉnh và trung ương cũng xuất thân từ hoạt động làng rừng.

Một trong những làng rừng tiêu biểu ở Cà Mau thời kỳ này là Làng rừng Vồ Dơi, nay thuộc khu vực Vườn Quốc gia U Minh Hạ. Rừng đặc dụng Vồ Dơi thuộc hệ sinh thái rừng tràm, động thực vật phong phú, đa dạng. Đây là khu rừng nguyên sinh lớn nhất của tỉnh được bảo vệ nghiêm ngặt và phát triển tốt. Trong những năm 1958 – 1960, cùng các nơi trong tỉnh, Vồ Dơi được chọn để xây dựng làng rừng cùng với tuyến rừng tràm U Minh Hạ, liên hoàn với làng rừng Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây. Làng rừng Vồ Dơi nằm trong cánh rừng tràm nguyên sinh, có các loại dây leo như dớn, choại bao quanh, tạo cho chân rừng một lớp thảm thực vật phong phú.

Có thể khẳng định làng rừng là một sáng tạo của cuộc chiến tranh nhân dân tỉnh Cà Mau. Dưới tán rừng ngập nước là những ngôi nhà sàn được ngụy trang kín đáo dùng làm nhà ở của dân, nhà làm việc của các cơ quan kháng chiến, trạm y tế, trường học, kho vũ khí, lương thực, nơi đóng quân của bộ đội, các đồng chí lãnh đạo kháng chiến như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Võ Văn Kiệt, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Trung Thành (Ba Lò Rèn)… đã từng sống và làm việc.

Tham gia những hoạt động trong thời kỳ này, có các đồng chí được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như: đồng chí Nguyễn Trung Thành (Ba Lò Rèn), phụ trách - Giám đốc Xưởng quân giới (1960-1964); đồng chí Dương Văn Thà, Giám đốc Xưởng quân giới (1969-1976); liệt sĩ Huỳnh Ngọc Điệp, Giám đốc dân quân xưởng trong kháng chiến chống Pháp; đồng chí Phan Văn Thượng (Tư Thượng); đồng chí Trần Văn Phú (Ba Phú).

Làng rừng còn gắn với quá trình hoạt động của đồng chí Nguyễn Văn Đáng (Tư Hườn), nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực. Trong những năm 1955-1960, với vai trò là Bí thư Huyện uỷ Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, đồng chí Nguyễn Văn Đáng đã sinh sống và làm việc tại các địa điểm làng rừng thuộc huyện Trần Văn Thời, trong đó có Làng rừng Vồ Dơi.

Một trong những hoạt động nổi bật ở làng rừng đó là phong trào xóa mù chữ và “bình dân học vụ” với mục đích giúp cho tất cả cán bộ, nhân dân trong Làng rừng, nhất là thanh thiếu niên đều biết chữ và nâng dần trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình sắp tới, với phương châm là người biết chữ dạy người không biết chữ, người biết chữ nhiều dạy người biết chữ ít. Nhân dân trong làng rừng tự giác đốn cây cất trường học, trường được dựng bằng cây tràm, mái lợp bằng vỏ tràm, có bàn ghế, bảng viết… Vị trí dựng trường được bố trí ở trung tâm làng rừng, chọn nơi gò đất cao, thoáng mát. Có lớp học chỉ từ 5-7 học sinh, có lớp đến hàng chục học sinh. Giáo viên là những người biết chữ nhiều, không có sách giáo khoa thì tận dụng các sách, báo, bản tin tuyên truyền để giảng dạy.

Làng rừng không chỉ là nơi bảo tồn lực lượng cách mạng mà có tác dụng rất lớn trong việc góp phần ổn định tư tưởng một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng bị địch theo dõi và khủng bố. Nó còn có ảnh hưởng rộng lớn không chỉ ở vùng sâu, mà còn có tác dụng lớn đối với vùng kềm và vùng tranh chấp giữa ta và địch. Từ đó, đã thu hút lực lượng thanh niên vào Làng rừng ngày càng đông đảo, tạo được nguồn sinh lực bổ sung cho lực lượng cách mạng. “Làng rừng” là biểu tượng của long dân đi theo Đảng và Đảng không lúc nào rời xa dân.

Làng rừng còn là nơi xây dựng các lực lượng võ trang cần thiết lúc bấy giờ; là địa bàn, căn cứ địa thuận lợi có đủ các điều kiện cho việc củng cố, xây dựng lực lượng cách mạng chuẩn bị sẵn sàng cho phong trào đồng khởi năm 1960, tiền đề cho chiến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Trong lời phát biểu của Tổng Bí thư Lê Duẩn, khi về thăm tỉnh Minh Hải  năm 1978, đồng chí nhấn mạnh: “… Khi địch lôi máy chém đi khắp miền Nam đưa sự tàn bạo phát xít đến cùng cực, ở Minh Hải có hàng vạn thanh niên vào rừng U Minh. Một không khí cách mạng bùng lên: chính thực tế đó của Minh Hải giúp cho Trung ương thấy cần phải phát động quần chúng vùng dậy đấu tranh”.

Bên cạnh giá trị lịch sử nói chung, với hệ sinh thái đặc thù của rừng tràm U Minh Hạ, Làng rừng Vồ Dơi còn là nơi phục vụ công tác nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng ngập nước, nghiên cứu nguồn gien và môi trường cũng như bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm như nai, khỉ, heo rừng, kỳ đà và hàng chục loài chim nước. Vùng rừng đệm (rừng non và tràm tái sinh) bao bọc khu rừng nguyên sinh tạo nên thảm rừng xanh quanh năm. Ngoài việc đón khách tham quan, làng rừng còn bố trí các khu nghiên cứu, bảo tồn động vật hoang dã, nghiên cứu tác động của hệ sinh thái và môi trường. Các phòng thí nghiệm về nhân giống, bảo tồn nguồn gien và ứng dụng vào sản xuất lâm nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lâm nghiệp của tỉnh. Các mương kinh của làng rừng được thả thêm các loại cá nước ngọt, trồng thêm thảm cỏ năn làm thức ăn cho các loài chim nước.

Khu rừng đặc dụng Vồ Dơi đã được UBND tỉnh quyết định đưa vào bảo vệ nghiêm ngặt phục vụ nghiên cứu khoa học và du lịch. Đây là khu bảo tồn duy nhất còn diện tích lớn rừng nguyên sinh và nhiều loài động vật quí hiếm – khả năng và tiềm năng nghiên cứu, du lịch, bảo tồn di tích rất lớn và khả thi.

Khi được xếp hạng là di tích lịch sử Quốc gia, Làng rừng Dồ Vơi sẽ có đủ cơ sở pháp lý để tiếp tục nghiên cứu phục dựng, tái hiện không gian làng rừng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa đặc trưng của vùng đất cực Nam Tổ quốc, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, đồng thời khai thác phục vụ du lịch, phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

Source: ST: Vĩnh Tường

You did not use the site, Click here to remain logged. Timeout: 60 second